(Chinhphu.vn) - Ngày 5/3, Cổng TTĐT Chính phủ tổ chức tọa đàm với chủ đề “Để sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao”.

Các vị khách mời tham dự tọa đàm - Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Nguồn nhân lực chất lượng cao bao giờ cũng đóng vai trò quyết định đến khả năng huy động, sử dụng có hiệu quả các loại nguồn lực khác, nhất là trong điều kiện phát triển kinh tế tri thức. Cũng theo các chuyên gia, nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những yếu tố quan trọng mang tính quyết định để nền kinh tế muốn phát triển nhanh và bền vững. Vậy những giải pháp nào được đặt ra trong thời gian tới để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực? Cần đổi mới mô hình đào tạo, cơ cấu nguồn nhân lực như thế nào để thích ứng với xu thế hội nhập của thế giới? Nghị quyết số 39-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 15/01/2019 về nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác sử dụng và phát huy các nguồn lực của nền kinh tế đặt ra mục tiêu đến năm 2025, tỉ trọng lao động làm việc trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản dưới 33% tổng số lao động của cả nước. Những giải pháp trọng tâm nào được đưa ra trong thời gian tới để đạt được mục tiêu này? Nhìn nhận về vấn đề này, Cổng TTĐT Chính phủ tổ chức tọa đàm với chủ đề: “Để sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao” với sự tham dự của các vị khách mời:

Ông Bùi Sỹ Lợi, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội.

Ông Trương Anh Dũng, Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, Bộ LĐTB&XH.

Hiện nay, còn nhiều ý kiến khác nhau về định nghĩa nguồn nhân lực chất lượng cao như nguồn nhân lực chất lượng cao phải đáp ứng được 2 tiêu chí năng lực và phẩm chất. Năng lực bao gồm các mặt như: Trình độ chuyên môn nghiệp vụ, các kỹ năng tiếp thu và truyền đạt. Vậy chúng ta nên hiểu như thế nào về định nghĩa nguồn nhân lực chất lượng cao thưa 2 vị khách mời? Các vị khách mời có thể khái quát chung về nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao của nước ta hiện nay?

Ông Bùi Sỹ Lợi: Nguồn nhân lực chất lượng cao hiện nay có nhiều cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau. Có 2 tiêu chí bảo đảm đúng với nguồn nhân lực chất lượng cao là thể lực và trí lực. Tuy nhiên, chúng ta có thể khái quát về nguồn nhân lực chất lượng cao như sau: Là nguồn nhân lực phải có trí tuệ, có nhân cách, có tay nghề vượt trội và có năng lực thực tế để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ so với mặt bằng chung hiện nay của nền kinh tế xã hội. Nguồn nhân lực chất lượng cao phải bảo đảm tính hiện đại và tri thức, như vậy mới đáp ứng yêu cầu của quá trình hiện đại hóa, công nghiệp hóa, tiếp cận với cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.

Ông Trương Anh Dũng: Nói đến nhân lực chất lượng cao không phải trình độ cao là chất lượng cao. Trên thực tế, có những người, có những học sinh, sinh viên được đào tạo nghề nghiệp ở những trình độ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, nếu được đào tạo bài bản, có kiến thức, kỹ năng và năng lực làm việc tốt thì cũng có thể coi là nguồn nhân lực chất lượng cao. Chúng ta vẫn nói nhiều đến thời kỳ dân số vàng với trên 55 triệu lao động mà đa số là lao động trẻ, đây là điều kiện rất tốt của chúng ta, nếu tận dụng tốt chúng ta có thể bứt phá trong phát triển nguồn nhân lực.

Một trong những hạn chế là cơ cấu, trình độ của lực lượng lao động vẫn còn nhiều vấn đề. Trong 55 triệu lao động thì chỉ có khoảng 24% lao động có bằng cấp chứng chỉ đầy đủ, tôi cho rằng đây là hạn chế lớn nhất. So với tương quan của các quốc gia trong khu vực thì rõ ràng chúng ta thấp hơn nhiều, khoảng cách lớn và khó tạo ra năng suất lao động cao tiệm cận với các nước.

Trong báo cáo về mức độ sẵn sàng cho nền sản xuất trong tương lai do Diễn đàn Kinh tế Thế giới mới đây công bố, Việt Nam chỉ xếp thứ 70/100 về nguồn nhân lực và 81/100 về lao động có chuyên môn cao. Thưa 2 vị khách mời, ông có những chia sẻ như thế nào về vị trí xếp hạng này?

Ông Bùi Sỹ Lợi: Có một thời kỳ chúng ta sử dụng lao động theo chỉ tiêu lao động qua đào tạo, kể cả tư vấn nghề, dạy nghề ngắn hạn, thường là phổ cập nghề nghiệp cho người lao động để tiếp cận thị trường bởi chủ yếu là lao động phổ thông. Cả quãng đường dài đó chúng ta đã đạt được 60% khóa đào tạo. Chúng ta phải xem xét 25% lao động qua đào tạo từ 3 tháng trở lên được cấp chứng chỉ, đó mới là điều mà quốc tế họ xem xét.

Ông Bùi Sỹ Lợi, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội - Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Tôi đã nói trước Quốc hội, chỉ tiêu lao động qua đào tạo đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của nó trong giai đoạn chúng ta tiếp cận với nền công nghệ cao. Bây giờ, chúng ta không nên xem chỉ tiêu lao động qua đào tạo 60% làm số liệu cho là thành tựu, vấn đề quan trọng là chúng ta tập trung đào tạo một cách bài bản mà hiện tại mới đạt được 25%. Phải qua đào tại, có thời gian, có kỹ năng và đào tạo nghề phải gắn với đào tạo phát triển giáo dục phổ thông mà Bộ LĐTB&XH đưa ra phương thức mới là phân luồng học sinh, để học sinh lớp 9 sau khi tốt nghiệp có thể không vào cấp 3 mà vào cao đẳng nghề, sau khi đào tạo nghề là có bằng phổ thông trung học (PTTH). Đấy là cách đi đúng để chúng ta đi trước đón đầu, rút ngắn thời gian của các cháu học PTTH để đạt chất lượng lao động, đáp ứng quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

Nếu chúng ta không chuẩn bị, không đi trước đón đầu thì chúng ta sẽ vướng ngay vào quá trình hội nhập cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, nó sẽ dẫn dắt lao động của chúng ta đi đến tình trạng không tìm kiếm được việc làm. Bộ LĐTB&XH và Tổng cục Dạy nghề phải lưu ý ngay số lượng lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân, nhất là những ngành sử dụng lao động thủ công như dệt may, da giày…

Thế giới đánh giá chúng ta như thế là đúng, để chúng ta đánh giá được con đường đi của mình. Tôi thấy Chính phủ, Bộ LĐTB&XH đang đi đúng hướng.

Ông Trương Anh Dũng: Có nhiều tổ chức và nhiều tiêu chí xếp hạng, đây là một cơ sở để chúng ta nhìn nhận lại thực trạng nguồn nhân lực của chúng ta. Rõ ràng chúng ta còn thua kém với các nước khác, chúng ta cần phải tập trung, tuy nhiên vẫn có tín hiệu khả quan như ông Bùi Sỹ Lợi chia sẻ.

Trong hệ thống đào tạo năm 2019, chất lượng đào tạo nghề tăng 13 bậc, đóng góp vào tăng 10 bậc năng lực cạnh tranh quốc gia, theo Diễn đan kinh tế Thế giới đánh giá. Hiện nay, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đang chỉ đạo quyết liệt việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề nghiệp. Chúng tôi đã đầu tư và phát triển các trường nghề chất lượng cao, quy hoạch các ngành nghề trọng điểm, chuyển giao chương trình đào tạo từ các nước phát triển và đã ban hành hệ thống văn bản pháp luật để phát triển các chương trình đào tạo chất lượng cao. Mới đây, Bộ LĐTB&XH đã ban hành công văn chỉ đạo đẩy mạnh đào tạo nhân lực có tay nghề cao trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp đến các cơ sở giáo dục nghề nghiệp các địa phương, các bộ, ngành.

Ông Bùi Sỹ Lợi: Có một điểm đáng lưu ý, đào tạo nghề của chúng ta diễn ra rất nhanh nhưng chưa bắt nhịp, chưa đáp ứng được yêu cầu của quá trình sản xuất và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Có thể nói chúng ta đi đúng hướng nhưng phải đẩy nhanh tiến độ.

Trong bối cảnh đất nước hội nhập sâu rộng, lao động trẻ giá rẻ không còn là lợi thế. Quan điểm của 2 vị khách mời về vấn đề này như thế nào?

Ông Bùi Sỹ Lợi: Chúng ta đi một chặng đường rất dài, mở cửa hay nói cách khác là rải thảm đỏ để thu hút đầu tư nước ngoài. Và trong thời kỳ này, chúng ta chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp dịch vụ. Chính quá trình đó rất tốt vì chúng ta có nguồn nhân lực thấp thì cần dịch chuyển, trong khi chúng ta chưa thể đào tạo bài bản.

Hầu hết, chúng ta kêu gọi đầu tư nước ngoài sử dụng lao động không có trình độ cao, hay nói cách khác lao động lúc bây giờ không đòi hỏi cao. Nhưng rất tốt ở chỗ chúng ta giải quyết được việc làm và cũng đáp ứng một phần tăng trưởng của đất nước. Tuy nhiên, đến bây giờ, do thay đổi về công nghệ, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi chất lượng lao động phải thay đổi nên chúng ta cần đáp ứng thay đổi đó và đánh giá đúng từng giai đoạn.

Giai đoạn đầu, sử dụng lao động chưa có chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo. Giờ đây, chúng ta phải thay đổi cách thức và khi thay đổi cách thức thì rõ ràng phải thay đổi hệ thống đào tạo, sắp xếp lại hệ thống trường lớp dạy nghề. Theo tôi, phải thu gọn đầu mối nhưng nâng cao chất lượng. Muốn làm được điều này, Tổng cục Dạy nghề phải hết sức lưu ý chuẩn hóa giáo viên, trang bị công cụ, thiết bị cho học sinh.

Hiện nay, trong tổng số hơn 53 triệu lao động thì chưa đầy 19% công nhân có trình độ kỹ thuật cao, còn lại là lao động phổ thông. Vậy trong thời gian tới, chúng ta có những chính sách như thế nào để nâng cao số lượng lao động có trình độ kỹ thuật cao?

Ông Trương Anh Dũng: Trước hết, tôi cho rằng phải điều chỉnh chiến lược và quy hoạch phát triển nguồn nhân lực cho giai đoạn mới. Giai đoạn trước, nhu cầu nhân lực phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế khác. Trong yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, vấn đề lao động giá rẻ, lao động phổ thông không còn là lợi thế. Chúng ta cần tập trung vào lao động có tay nghề, trình độ cao. Chúng tôi đang được Chính phủ giao xây dựng Chiến lược phát triển nguồn nhân lực và thời gian qua, chúng tôi đã cùng với các chuyện gia, tổ chức quốc tế bắt tay vào điều tra, khảo sát nhu cầu, đánh giá thực trạng.

Ông Trương Anh Dũng, Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, Bộ LĐTB&XH - Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Thứ hai, cần tiếp tục rà soát lại các cơ chế, chính sách về phát triển nguồn nhân lực. Trên thực tế, chúng ta đã có Chỉ thị 37-CT/TW của Ban Bí thư khóa XI về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đào tạo nhân lực có tay nghề cao.Thủ tướng Chính phủ cũng có Quyết định phê duyệt các trường nghề có chất lượng cao. Tuy nhiên, chúng ta phải rà soát, tập trung vào những nhiệm vụ gì? Đã là đào tạo lao động chất lượng cao thì phải có nguồn lực. Rõ ràng, chi phí đào tạo nghề, điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị, bồi dưỡng đội ngũ, xây dựng chương trình đều rất tốn kém.

Tôi chỉ so sánh con số đơn giản để thấy rằng yêu cầu quy mô về vốn đầu tư cho giáo dục nghề nghiệp là rất lớn. Chúng ta đầu tư một trường nghề ở Việt Nam với con số 40 tỷ ở cấp tỉnh, huyện là con số lớn, hay 400 tỷ ở các thành phố cũng là con số lớn. Nhưng nhìn sang Singapore, để đầu tư một trường nghề đẳng cấp quốc tế, người ta đầu tư 400 triệu đô la cho một trường nghề. Như vậy, họ mới có đẳng cấp quốc tế. Tuy nhiên, ngân sách còn khó khăn thì gắn kết doanh nghiệp là giải pháp cần tập trung. Chúng ta cần thiết kế một cơ chế thu hút doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực này. Nhiều nước phát triển đã rất thành công với mô hình tham gia vào phát triển đào tạo nghề. Lý thuyết và phần thực hành cơ bản có thể do Nhà nước đầu tư, nhưng phần thực hành chuyên sâu với công nghệ và điều kiện sản xuất thực tế thì các trường nghề không thể có. Chính vì vậy, kết hợp với doanh nghiệp sẽ giúp rút ngắn khoảng cách kỹ năng, kiến thức đào tạo trong trường với thực tế của thị trường lao động.

Gắn đào tạo nghề với phát triển các ngành, lĩnh vực, đẩy mạnh đào tạo theo như cầu, mục tiêu của doanh nghiệp thời gian qua đã, đang triển khai và đạt được một số kết quả. Tuy nhiên, vẫn còn gặp một số bất cập như ngành nghề đào tạo chưa thực sự phù hợp với nhu cầu doanh nghiệp. Vậy chúng có những chính sách như thế nào để phát triển mô hình này thưa ông?

Ông Trương Anh Dũng: Chúng tôi đã làm một số việc, quan trọng và nổi bật nhất trong thời gian vừa qua là chủ động, tích cực kết nối với doanh nghiệp, tập đoàn để phối hợp, hợp tác trong giáo dục nghề nghiệp.

Trước năm 2018, chúng ta chưa bao giờ làm được việc này. Nhưng năm 2018, Bộ trưởng Bộ LĐTB&XH đã ban hành kế hoạch hợp tác với doanh nghiệp trong vòng 3 năm. Sau đó, chúng tôi đã ký kết một loạt hợp tác và biên bản ghi nhớ với các doanh nghiệp. Lãnh đạo Bộ đã chỉ đạo Tổng cục cùng với VCCI có một bức thư gửi cho tất cả các doanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp FDI, mời gọi hợp tác về giáo dục nghề nghiệp.

Chúng tôi đã cùng với các cơ quan tham mưu rà soát chính sách. Chúng ta đã có Chương trình về hợp tác giáo dục nghề nghiệp trong Luật Giáo dục nghề nghiệp nhưng Luật Giáo dục nghề nghiệp đã được Quốc hội thẩm tra và bỏ phiếu, thông qua nhưng vẫn còn những khiếm khuyết. Vừa qua, trong sửa đổi Bộ Luật Lao động, chương 4 về phát triển kỹ năng, phát triển giáo dục nghề nghiệp, chúng tôi phải tiếp tục rà soát, sửa đổi để doanh nghiệp tham gia sâu hơn và thấy rõ được lợi ích cũng như trách nhiệm của họ.

Ông Bùi Sỹ Lợi: Chúng ta hiện nay đang bị thời kỳ bao cấp lấn sân, tức là đào tạo cái nhà trường có mà chưa đào tạo cái thị trường cần. Thế nên phải kết hợp cả đào tạo tại doanh nghiệp và nhà trường. Doanh nghiệp gắn đào tạo của chúng ta để sử dụng ngay và có thể đào tạo để cung cấp lao động cho những doanh nghiệp khác cùng ngành nghề, nghĩa là phải gắn nhiều thực hành.

Trước đây, chúng ta dạy lý thuyết nhiều, thực hành ít nên công nhân chúng ta kém. Bây giờ, nhà trường phải đào tạo cái xã hội cần thì các trường phải đi theo hướng đó để đi trước đón đầu. Quan trọng làm sao để nhà đón đầu nghề nhà trường đào tạo ra mà thị trường nhận ngay? Chiến lược của Bộ LĐTB&XH phải đưa ra tư duy mới về vấn đề này. Mặt khác, đào tạo ở doanh nghiệp để doanh nghiệp sử dụng là rất tốt, để cung cấp cho doanh nghiệp khác cũng rất tốt. Nhưng đáng quan tâm là các trường nghề phải đào tạo đúng nhu cầu của xã hội trong tương lai.

Ông Trương Anh Dũng: Danh mục ngành nghề cũng cần phải thay đổi. Chỉ có doanh nghiệp mới đủ điều kiện xác định rằng họ cần kiến thức, kỹ năng gì trong thực tế. Không phải chỉ vấn đề đào tạo, mà ngay cả khi chúng tôi đi thi tay nghề, những ngành nghề mà doanh nghiệp tài trợ và tham gia sâu trong quá trình luyện thi thì kết quả đạt được rất cao. Bộ LĐTB&XH đã xác định sự tham gia của doanh nghiệp trong đào tạo nghề là một trong 3 đột phá của lĩnh vực này trong thời gian tới. 

Một trong những lĩnh vực đòi hỏi kỹ sư công nghệ có trình độ cao và năng lực quản lý để có thể đáp ứng nhu cầu phát triển đó là (CNTT. Theo dự báo, năm 2020, nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp là khoảng 1 triệu nhân lực CNTT. Thưa 2 vị khách mời, giải pháp trọng tâm nào trong thời gian tới để chúng ta đào tạo và đáp ứng được nhân lực trong lĩnh vực này?

Ông Bùi Sỹ Lợi: Quan trọng là phải xác định được chúng ta đào tạo ở đâu và trường nào, cơ sở nào đào tạo. Nhà nước, Chính phủ đặt trọng tâm của giáo dục nghề nghiệp, trong đó chúng ta phải xây dựng một luật về giáo dục nghề nghiệp, có nghĩa điều này rất quan trọng.

Đến nay, chúng ta đã có sự thay đổi trong tư tưởng nhận thức. Người lao động, học sinh và gia đình học sinh không hoàn toàn muốn cho con em mình học xong PTTH là vào đại học. Đây là một chuyển biến rất hay. Chúng ta muốn vào học nghề để ra có việc làm luôn và học nghề cũng liên thông được lên đại học.

CNTT luôn luôn đi trước đón đầu ở bất kỳ một quốc gia nào. Vấn đề hiện nay là chúng ta phải lựa chọn phương thức, cách thức đào tạo, nơi nào đào tạo và công nghệ đào tạo này của đất nước nào mà mình thu nhập được, đây là vấn đề rất quan trọng. Tôi nghĩ Bộ LĐTB&XH phải tính toán, ngành nghề lĩnh vực chúng ta đã xác định được, cách thức bước đi như thế nào, rồi Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp phải tham mưu Chính phủ để chúng ta thực hiện tốt vấn đề này.

Ông Trương Anh Dũng: Như Tiến sĩ Bùi Sỹ Lợi vừa mới chia sẻ, vấn đề giải pháp chúng ta đã đặt ra nhiều. Tôi muốn nhấn mạnh thêm một chút về vai trò, vị trí của CNTT không chỉ cho nhân lực làm việc trong ngành CNTT mà kể cả kỹ năng số cho lực lượng lao động của chúng ta hiện nay.

Qua nghiên cứu thấy rằng, một số quốc gia, đặc biệt là các nước OECD, các nước G20, kể cả trong Liên minh châu Âu, họ đã xây dựng bộ tiêu chí, tiêu chuẩn về năng lực CNTT cho người dân của họ. Cụ thể, trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp, họ đã xây dựng kỹ năng về CNTT cho người dạy và người học. Tôi nghĩ rằng đây là việc đầu tiên chúng ta cần phải làm.

Vừa qua, Thủ tướng ban hành Quyết định 622/QĐ-TTg về Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững, trong đó giao nhiệm vụ cho Bộ LĐTB&XH xây dựng một đề án để tăng cường năng lực kỹ năng CNTT cho lực lượng lao động. Lực lượng lao động là 55 triệu chứ không chỉ có 1 triệu nhân lực làm trong lĩnh vực CNTT.

Mới đây, chúng tôi có làm việc với Hiệp hội Công nghệ phần mềm (VINASA) để đặt ra những giải pháp, cơ chế nhằm tập trung phát triển nhân lực lĩnh vực này. Đầu tiên, chúng ta phải làm cách nào để thu hút được người lao động? Nói đến CNTT, không phải là học đại học kỹ sư CNTT, trên thực tế nhu cầu nhân lực trình độ thấp hơn từ cao đẳng trở xuống rất lớn, khoảng 70 %-80% là trình độ cao đẳng trở xuống. Vừa rồi, chúng tôi có làm clip mô tả nghề CNTT để người học hình dung được học CNTT là học cái gì, yêu cầu năng lực cần thiết là gì, ra trường làm ở đâu, ở những vị trí việc làm nào, cơ hội về việc làm thu nhập như thế nào. Điều này cần phải truyền thông. 

Thứ hai, như anh Lợi có chia sẻ, đó là phải thay đổi về nội dung chương trình và phương pháp giảng dạy. Hiện nay, CNTT là một trong những môn có thể làm đào tạo trực tuyến rất tốt, nhưng chúng ta chưa đẩy mạnh được việc này. Chúng tôi sẽ tham mưu và rà soát lại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và các ngành nghề đào tạo liên quan đến lĩnh vực CNTT nhằm đào tạo, đáp ứng nhu cầu của lĩnh vực này. Trong năm 2020, nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp khoảng 1 triệu nhân lực CNTT, đến nay, chúng ta đã có khoảng 300.000 nhân lực, còn thiếu 700.000 nhân lực, trong thời gian tới sẽ xây dựng kế hoạch để đạt được con số này.

Mới đây, Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Chỉ thị 07/CT-TTg ngày 04/02/2020 về giải pháp thúc đẩy tăng năng suất lao động quốc gia. Trong đó có đề cập đến giải pháp thời gian tới là đẩy mạnh đào tạo, đào tạo lại người lao động và đào tạo lao động kỹ thuật chất lượng cao đủ năng lực tham gia nền sản xuất thông minh, kinh doanh dựa trên công nghệ hiện đại. Từ phía Bộ LĐTB&XH sẽ triển khai các nội dung này như thế nào?

Ông Trương Anh Dũng: Chính phủ, Thủ tướng Chính đã giao cho Bộ LĐTB&XH xây dựng đề án đào tạo, đào tạo lại cho người lao động để đáp ứng yêu cầu cách mạng công nghiệp 4.0. Để tăng năng suất lao động, vấn đề đào tạo hết sức quan trọng, nhưng bên cạnh đó còn có vấn đề về thái độ và năng lực của người lao động. Thái độ ở đây tôi muốn nói đến vấn đề về chính sách tiền lương, về thu nhập để tạo động lực thúc đẩy người lao động. Đây là điều hết sức quan trọng mà chúng ta cần tập trung.

Về phía chúng tôi, sau khi đề án này được Chính phủ thông qua, chúng tôi sẽ triển khai. Trước hết, tập trung vào đào tạo những kiến thức, kỹ năng cho người lao động chưa có tay nghề, chưa có kỹ năng nghề. Vì trên thực tế, nhiều doanh nghiệp FDI hiện nay đang đầu tư tại Việt Nam chủ yếu sử dụng lao động phổ thông. Chính vì vậy, chúng ta phải phối hợp với doanh nghiệp để tổ chức đào tạo cho người lao động.

Thứ hai là đào tạo để cập nhật, bổ sung kiến thức kỹ năng để phù hợp với yêu cầu của thay đổi công nghệ. Đây là yếu tố mà chúng tôi sẽ tập trung.

Ông Bùi Sỹ Lợi: Có một điểm hết sức lưu ý. Tôi đã rất nhiều lần trao đổi với đồng chí Bộ trưởng Bộ LĐTB&XH và báo cáo Chính phủ. Hiện nay, chúng ta đào tạo trường lớp, đào tạo gửi vào doanh nghiệp đã đạt được một số kết quả. Có một vấn đề pháp luật quy định rất rõ, đó là chúng ta dùng quỹ bảo hiểm thất nghiệp để đào tạo đi trước đón đầu cho người lao động đang có việc làm, nhưng có nguy cơ mất việc làm do chuyển đổi cơ cấu ngành nghề và lĩnh vực. Hiện nay, có khoảng gần 70 nghìn tỷ quỹ bảo hiểm thất nghiệp, chúng ta phải sử dụng, xem đây như là một nguồn lực hết sức quan trọng. Giao cho các doanh nghiệp có đủ điều kiện về thiết bị, năng lực giáo viên để chúng ta đào tạo. Thứ nhất là đào tạo cho chính lao động của doanh nghiệp đó, để có thể khi không may nguy cơ mất việc làm của một số ngành như da giày, dệt may…, chúng ta có thể chuyển đổi sang ngành khác mà không cần phải thay đổi lao động để người lao động không bị thất nghiệp. Đây là điều rất tốt và chúng ta đang có nguồn lực.

Tuy nhiên, chúng ta không nên máy móc quỹ bảo hiểm thất nghiệp này chỉ dành cho những người có tham gia bảo hiểm thất nghiệp để đào tạo, mà chúng ta kết nối thêm để cho người lao động có thể vào doanh nghiệp làm việc.

Tôi phải nói rằng Chính phủ hết sức quan tâm vấn đề này để đào tạo giữ chân cho người lao động đang làm việc nhưng sẽ có nguy cơ mất việc làm trong tương lai, nghĩa là chúng ta dự phòng thất nghiệp cho người lao động.

Ông Trương Anh Dũng: Đây là vấn đề rất hay. Chúng tôi có nghiên cứu mô hình ở Singapore, gọi là quỹ phát triển kỹ năng tương lai và tất cả những người dân, công dân của Singapore có một tài khoản, họ sử dụng nguồn kinh phí đó cập nhật, bổ sung kiến thức, kỹ năng cho mình. Nhưng họ chỉ để dùng để phát triển kỹ năng, bổ sung kiến thức chứ không được làm việc khác. Đây cũng là một biện pháp mà các quốc gia đã bắt đầu quan tâm.

Một trong những giải pháp được đặt ra trong thời gian tới là đổi mới căn bản và toàn diện chính sách sử dụng nhân lực trong khu vực nhà nước. Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 về chính sách tiền lương, từ năm 2021, trên cả nước sẽ tiến hành trả lương theo vị trí việc làm và theo chức vụ lãnh đạo quản lý. Việc trả lương theo vị trí việc làm sẽ tác động tích cực như thế nào đến chất lượng công việc và nâng cao chất lượng nguồn lao động, thưa ông?

Ông Bùi Sỹ Lợi: Bố trí lao động theo đúng vị trí việc làm chính là nguyên nhân của việc thúc đẩy tăng năng suất lao động. Vị trí việc làm khẳng định rằng, người giữ vị trí đó, ở vị trí việc làm đó phải hiểu biết gì, làm được gì và nhiệm vụ là bao nhiêu. Điều này rất quan trọng. Nếu chúng ta làm được điều này thì đương nhiên tổ chức bộ máy của chúng ta sẽ gọn lại, không có câu chuyện một việc nhiều người, mà việc đó chỉ có một người làm và một người làm nhiều việc.

Hiện nay, chúng ta đang vướng ở câu chuyện là xác định vị trí việc làm. Nhiều cơ quan khi xác định vị trí việc làm chưa đánh giá hết. Quan trọng nhất của việc phù hợp giữa người lao động hay cán bộ đó với vị trí việc làm, chính là năng lực trình độ đáp ứng với công việc đó. Lâu nay, chúng ta đang bố trí không đúng, học ngành này làm nghề khác vẫn làm được nhưng năng suất lao động thấp.

Thứ hai là người lao động làm đúng vị trí việc làm, nhưng vẫn thừa thời gian thì làm sao hưởng lương được đầy đủ. Cho nên vị trí việc làm vô cùng quan trọng. Không phải doanh nghiệp bố trí được quản trị nhân lực làm tốt vấn đề này để thúc đẩy tăng năng suất lao động doanh nghiệp, mà trong cải cách tiền lương của đất nước, chúng ta không xác định đúng vị trí việc làm, không giảm được biên chế thì cải cách này không đem lại ý nghĩa và không thể cải cách được vì biên chế quá lớn.

Hiện nay, chúng ta đang thực hiện nguyên tắc là phân phối theo lao động. Vấn đề này chúng ta thực hiện từ lâu nhưng chưa làm chưa tốt. Tiền lương phải trả theo giá trị của sức lao động, mà giá trị sức lao động này không cao. Có câu chuyện về lương như nhau mà làm việc khác nhau thì làm sao chúng ta tạo ra động lực để thúc đẩy tăng năng suất lao động và động lực để cho người lao động phấn đấu thăng tiến?

Vậy nên, tôi cho rằng chúng ta xác định bố trí người lao động theo đúng vị trí việc làm là một biện pháp rất quan trọng để thúc đẩy tăng năng suất lao động và thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

Ông Trương Anh Dũng: Tôi hoàn toàn nhất trí với ý kiến của ông Bùi Sỹ Lợi. Thực ra, tạo ra động lực, thúc đẩy tăng năng suất và thực chất qua đó cũng sẽ nâng được chất lượng của nguồn nhân lực. Khi có động lực, họ sẽ phải nỗ lực trong vấn đề làm việc, kể cả học tập, bồi dưỡng thêm kiến thức, kỹ năng để thích ứng với yêu cầu công việc, kể cả với thu nhập và thăng tiến. Tôi cho rằng đây là một đột phá, một bước ngoặt nếu chúng ta làm được việc này.

Tỉ trọng lao động làm việc trong khu vực nông, lâm, nghiệp và thủy sản hiện nay chiếm 34,7% tổng số lao động cả nước (giảm 3 điểm phần trăm so với năm trước). Mục tiêu đến năm 2025, tỉ trọng lao động làm việc trong khu vực này còn dưới 33% tổng số lao động của cả nước, đến năm 2035 giảm dần còn dưới 25%. Thưa, ông quá trình này đang được diễn ra như thế nào?

Ông Trương Anh Dũng: Theo bản tin cập nhật thị trường lao động quý 4/2019, chưa bao giờ tỉ trọng lao động làm việc trong khu vực nông, lâm, nghiệp lại giảm và trong lĩnh vực công nghiệp lại tăng. Sự chuyển dịch này diễn ra trong 5 năm vừa qua và năm 2019 là rất rõ, đây cũng là nhu cầu thị trường lao động và cũng là quá trình chuyển đổi mô hình kinh tế, mô hình tăng trưởng.

Vì vậy, sự chuyển dịch lao động diễn ra khá tốt, cùng với những giải pháp của Chính phủ đang chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương triển khai để thúc đẩy cơ cấu chuyển dịch kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng và đặc biệt chú trọng tới khu vực công nghiệp, dịch vụ.

Muốn tập trung phát triển thành một nước công nghiệp có thu nhập trung bình thì phải chuyển dịch lao động. Một nước công nghiệp phải có tỉ trọng lao động làm việc trong khu vực nông, lâm, nghiệp và thủy sản chiếm 20% tổng số lao động cả nước, hiện nay nước ta là 34,7%. Vì vậy, mục tiêu đến năm 2025, tỉ trọng lao động làm việc trong khu vực này còn dưới 33% tổng số lao động của cả nước là khả thi.

Có thể nói, chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng tích cực, lao động trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm nhanh nhưng vẫn chiếm tỷ trọng cao. Vậy thưa 2 vị khách mời, đâu là nguyên nhân?

Ông Bùi Sỹ Lợi: Nguyên nhân cơ bản không có động lực để dịch chuyển lao động nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ là vì chúng ta không phát triển được sản xuất. Lao động nông thôn hiện nay còn 33%, thực ra vẫn còn thừa sức lao động ở khu vực nông thôn, diện tích đất bị thu hẹp, năng suất lao động nông nghiệp tăng lên. Mặc dù đã chuyển đổi cơ cấu cây trồng để giải quyết nguồn nhân lực ở nông thôn nhưng nguồn nhân lực tại chỗ nông thôn của chúng ta rất lớn. So với thế giới thì tỉ trọng lao động nông nghiệp còn cao, vì vậy, chúng ta phải tìm các giải pháp tích cực để chuyển nhanh, quan điểm là phải đi trước mục tiêu thì mới tăng được năng suất lao động. Muốn tăng năng suất lao động, tăng trưởng kinh tế phải chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp, dịch vụ.

Thứ hai, chuyển dịch từ ngành, lĩnh vực có năng suất lao động thấp sang ngành, lĩnh vực có năng suất lao động cao hơn, do vậy chúng ta phải thúc đẩy tăng trưởng của các ngành công nghiệp, dịch vụ và phải cơ cấu lại trong ngành nông nghiệp, đây chính là chuyển dịch cơ cấu trong nội hàm.

Để đạt được mục tiêu đến năm 2025, tỉ trọng lao động làm việc trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản dưới 33% tổng số lao động của cả nước, giải pháp trọng tâm nào được đặt ra trong thời gian tới thưa 2 vị khách mời?

Ông Trương Anh Dũng: Muốn dịch chuyển phải có năng lực và điều kiện để dịch chuyển, đó chính là vấn đề đào tạo, trình độ, kỹ năng. Xu thế nghiên cứu trên thế giới cho thấy trình độ năng lực đào tạo càng cao thì dịch chuyển càng nhiều. Vì vậy, vấn đề đào tạo phải được đặt ra cho lực lượng lao động khu vực nông thôn.

Hiện nay, vấn đề đào tạo khu vực này được Đảng, Nhà nước chỉ đạo: Một mặt đào tạo để tái cơ cấu nội trong ngành nông nghiệp, nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sạch. Một mặt nữa là đào tạo chuyển dịch từ lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp sang lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ.

Trong thời gian vừa qua, Bộ LĐTB&XH đã triển khai đề án đào tạo nghề cho nông thôn theo Quyết định 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ bước đầu đã có kết quả, thành quả trong xây dựng nông thôn mới có vai trò rất quan trọng trong việc đào tạo nguồn nhân lực này.

Tới đây, chúng ta tiếp tục các giải pháp để thúc đẩy hơn nữa việc đào tạo nghề cho lao động khu vực nông thôn.

Có thể nói, lao động có trình độ chuyên môn cao đang làm việc tại nước ngoài chiếm số lượng không hề nhỏ. Vậy chúng ta có những chính sách, cơ chế như thế nào để trọng dụng và sử dụng có hiệu quả nhân tài ở nước ta, đồng thời thu hút người tài từ nước ngoài?

Ông Trương Anh Dũng: Hiện nay, chính sách cho những lao động làm việc ở nước ngoài trở về chưa có, nên chưa sử dụng được nguồn lao động này.

Lực lượng lao động này đã được nâng cao tay nghề, chất lượng lao động tốt, kỹ năng lao động cao, kỷ luật lao động tốt hơn, nhưng khi về, chúng ta chưa tận dụng hết được, chưa thu hút được vốn để đầu tư.

Hiện nay, Việt Nam có khoảng nửa triệu lao động đang làm việc ở nước ngoài, mỗi năm có khoảng từ 150.000 người đi lao động ở nước ngoài, chúng ta phải sử dụng được số lao động này để giải quyết được: Một là, thu hút được vốn mang từ nước ngoài về để đầu tư cho phát triển sản xuất, tạo việc làm. Thứ hai, chính những lao động này mang khoa học kỹ thuật học được ở nước ngoài để về phục vụ tại nước nhà.

Vì vậy, cần phải có thêm chính sách cho đối tượng này để thu hút lực lượng lao động này.

Thưa ông Trương Anh Dũng, về vấn đề này ông có quan điểm như thế nào?

Ông Trương Anh Dũng: Giải pháp cho vấn đề này cần phải tổng thể:

Một là, việc tạo nguồn phát hiện nguồn nhân tài và nguồn lao động từ nước ngoài trở về. Hai là, đào tạo, bồi dưỡng, tuyển dụng và sử dụng. Ba là, đãi ngộ và tôn vinh.

Vì vậy, chúng ta cần phải có chính sách và cơ chế một cách đầy đủ. Còn riêng đối với lực lượng lao động đi làm việc ở nước ngoài mà quay trở về Việt Nam làm việc thì cần phải sửa đổi luật. Tại diễn đàn Thủ tướng Chính phủ chủ trì, đã giao cho Bộ LĐTB&XH phải nhanh chóng có cơ chế và có biện pháp làm thế nào nắm được và tổng hợp thông tin, khai thác và sử dụng có hiệu quả lực lượng lao động này. Và Bộ LĐTB&XH cũng đã đưa vào nội dung chỉ thị trình Thủ tướng Chính phủ về nâng tầm kỹ năng lao động Việt Nam.

Đây cũng là một giải pháp quan trọng để phát huy được năng lực của lực lượng lao động cả trong nước và lao động ở nước ngoài khi quay về làm việc ở Việt Nam.

Thưa ông Bùi Sỹ Lợi, vậy để chúng ta có thể sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao cần có những giải pháp trọng tâm ưu tiên nào trong thời gian tới?

Ông Bùi Sỹ Lợi: Trong chính sách tổng thể của chúng ta phải có chính sách khuyến khích. Tôi cho rằng chúng ta phải cố gắng để có chính sách, một cơ chế nào đó để khuyến khích mở doanh nghiệp, mở ngành nghề, thu hút lao động. Rõ ràng là cơ chế về đất đai, nhà xưởng, vấn đề xây dựng công trình, nhà máy phải có sự hỗ trợ. Thứ hai, bước đầu phải có chính sách khuyến khích thuế như thế nào, hỗ trợ các mặt khác như thế nào. Chính sách tổng thể chúng ta đã có nhưng nên lựa chọn các chính sách có tính chất khuyến khích và kích cầu thì sẽ mang lại hiệu quả tốt.

Nhóm PV